Đóng lại
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

NĂM HỌC 2019-2020 ĐỀ VÀ ĐÁP ÁN KIỂM TRA HK2- NGỮ VĂN 10

 

SỞ GD&ĐT NGHỆ AN

TRƯỜNG THPT HÀ HUY TẬP

ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II NĂM HỌC 2019- 2020

Môn: NGỮ VĂN 10

Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian phát đề

 

 

  1. ĐỌC HIỂU ( 3.0 điểm)

Đọc văn bản sau:

Trong lúc tuyệt vọng tôi đã tìm đến một bậc thầy để hỏi: “Vì sao những người lương thiện như con lại thường xuyên gặp khổ?”

Người thầy trả lời: “Nếu một người trong lòng cảm thấy khổ, chắc trong tâm phải đang ôm giữ ác ý nào đó. Con hãy kể nỗi thống khổ của con, ta sẽ nói cho con biết, điều ác nào đang tồn tại trong con!

Tôi nói: Tiền lương thu nhập của con rất thấp, nhà ở không đủ rộng, con thường xuyên có cảm giác thua thiệt; trong xã hội, không ít người không có văn hóa, lại có thể lưng quấn bạc triệu, con không phục; một trí thức văn hóa như con, mỗi tháng lại chỉ có một chút thu nhập, thật sự là không công bằng; người thân nhiều lúc không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái…”

Thầy gật đầu, mỉm cười, nói với tôi: “Thu nhập hiện tại của con đã đủ nuôi sống con và gia đình. Con còn có cả phòng ốc để ở, căn bản là đã không phải lưu lạc ngoài xã hội. Nội tâm con có lòng tham đối với tiền tài và của cải, cho nên mới cảm thấy khổ. Loại lòng tham này là ác tâm. Trong xã hội có nhiều người thiếu văn hóa nhưng lại phát tài, rồi con lại cảm thấy không phục, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị cũng là một loại ác tâm. Con tự cho mình là có văn hóa, nên cần phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngạo mạn. Tâm ngạo mạn cũng là ác tâm. Cho rằng có văn hóa thì phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngu si. Tâm ngu si cũng là ác tâm! Người thân không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái, đây là không rộng lượng. Không rộng lượng sẽ dẫn đến hẹp hòi. Tâm hẹp hòi cũng là ác tâm”.

Thầy mỉm cười nói tiếp: “ Bởi vì nội tâm của con chứa đựng những ác tâm ấy, nên những thống khổ mới tồn tại trong con. Nếu con có thể loại trừ những ác tâm đó, những thống khổ kia sẽ tan thành mây khói”

(Trích Vì sao người lương thiện hay gặp nỗi buồn và trắc trở, tamnhin.net, ngày 10.12.2019 )

Thực hiện yêu cầu:

Câu 1: Nêu phương thức biểu đạt chính của văn bản?

Câu 2:Theo anh/chị, người thầy trong văn bản đã chỉ ra những loại ác tâm nào chứa đựng trong suy nghĩ của nhân vật tôi?

Câu 3: Viết đoạn văn (khoảng 5-7 dòng) bàn về cách hạn chế một trong số những ác tâm đang tồn tại trong con người hiện nay?

 

 

II.LÀM VĂN (7.0 điểm)

“Bây giờ trâm gãy gương tan,

Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.

Trăm nghìn gửi lạy tình quân

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi

Phận sao phận bạc như vôi

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.

Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”

(Trích Trao duyên – Truyện Kiều, Nguyễn Du, Ngữ Văn 10, Tập 2, NXB Giáo dục, 2019, tr 105 )

Cảm nhận của anh chị về đoạn thơ trên. Từ đó, nêu vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Thúy Kiều.

 

Hết./.

Thí sinh không sử dụng tài liệu. Giám thị không giải thích gì thêm!

 

 

SỞ GD&ĐT NGHỆ AN

TRƯỜNG THPT HÀ HUY TẬP

HƯỚNG DẪN CHẤM HỌC KÌ II

NĂM HỌC 2019- 2020

Môn: NGỮ VĂN 10

 

 

 

I.PHẦN ĐỌC HIỂU

Câu

Nội dung

Điểm

Câu 1

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi: “ Trong lúc tuyệt vọng....mây khói

 

Chỉ chấp nhận một đáp án đúng.

 

Phương thức biểu đạt chính: Tự sự

1.0

Câu 2

Những ác tâm chứa đựng trong nhân vật Tôi:

- Nội tâm con có lòng tham đối với tiền tài và của cải

- Tâm đố kị với thành công của người khác

- Tâm ngạo mạn khi cho rằng mình có văn hóa

- Tâm ngu si khi cho rằng có văn hóa thì thu nhập cao

- Tâm hẹp hòi không rộng lượng với người thân

1.0

Câu 3

Thí sinh chọn một loại ác tâm và bàn luận ngắn gọn về cách hạn chế một loại ác tâm. Có thể theo hướng:

  • Từ bỏ dần những ác tâm khi còn trong suy nghĩ. Đừng để những ác tâm chuyển thành hành động
  • Cảm thấy hạnh phúc với những gì mình có. Sống độ lượng bao dung, tránh đố kị tham lam

 

1.0

II.PHẦN LÀM VĂN

  

Cảm nhận tám câu thơ cuối trong đoạn trích Trao duyên (Truyện Kiều – Nguyễn Du). Từ đó, anh/chị hãy nêu vẻ đẹp tâm hồn nhân vật Thúy Kiều.

7.0

 

a/ Yêu cầu về kĩ năng:

- Biết cách làm bài văn nghị luận văn học.

- Kết cấu rõ ràng, chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, văn cảm xúc, gợi hình. Không mắc lỗi: chính tả, dùng từ, viết câu…

b/ Yêu cầu về kiến thức: HS có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần đạt được một số ý sau:

1.Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích và vấn đề nghị luận.

2.Thân bài: Cảm nhận đoạn thơ tám câu thơ cuối trong Trao duyên

*Nội dung: Tám câu thơ cuối đoạn trích Trao duyên diễn tả tâm trạng của Thúy Kiều khi trở về với thực tại đau buồn, khi thức tỉnh, thấm thía nỗi đau của chính mình và khi tạ lỗi cùng Kim Trọng. Trong tột cùng nỗi đau khổ và tuyệt vọng, Kiều nghĩ về Kim Trọng. Với nàng Kim Trọng là tất cả, là tình yêu, là niềm tin, là hy vọng, là niềm an ủi, sẻ chia... Tuy nhiên, Kim Trọng lại đang ở cách nàng rất xa, bởi thế cuộc đối thoại với Kim Trọng chỉ là trong tưởng tượng

+ Thúy Kiều cất lên lời than vô cùng chua xót, đau đớn trước thực tại phũ phàng:

Bây giờ trâm gãy gương tan,

Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.

Thành ngữ “Trâm gãy gương tan” là sự tan vỡ của tình yêu, cũng là sự tan nát trong trái tim Thúy Kiều. Tình yêu với của nàng với Kim Trọng ngày một nâng lên, ngày càng tha thiết thì nỗi đau, sự dằn vặt trong trái tim nàng càng mạnh mẽ, càng đớn đau hơn. Lời tạ tội của nàng thật thương tâm:

“Trăm nghìn gửi lạy tình quân

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi”.

 

+ Thúy Kiều thức tỉnh, thấm thía nỗi đau của mình. Nàng cất lên lời oán trách số phận, trách sự vô tình, khắc nghiệt của cuộc đời, than thở cho số phận éo le, mỏng manh, bạc bẽo của bản thân.

Phận sao phận bạc như vôi

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.

Dường như lúc này đây tình cảm của nàng đã lấn át cả lý trí. “Phận bạc” ở đây được sử dụng như một lời nói lên án cả xã hội phong kiến. Nhưng dù như vậy nàng cũng đành bất lực “đã đành” như một lời thở than, cam chịu số phận đớn đau. Hình ảnh “hoa” vốn là biểu trưng cho người con gái đẹp, ở đây không ai khác chính là nàng Kiều nhưng những bông hoa ấy lại trôi lỡ làng, vô định, không biết cuộc đời sẽ ra sao và đi đâu về đâu. Câu thơ cũng là lời dự cảm, một lời lo lắng cho tương lai đầy bất trắc phía trước

 

+ Thúy Kiều tạ lỗi với Kim Trọng

Nỗi đau trào dâng, bao nhiêu tình cảm dồn nén choán đầy cả tâm trí nàng Kiều. Bởi vậy, nàng thốt lên lời tạ tội đầy đau đớn với Kim Trọng:

Ơi Kim Lang! Hỡi Kim Lang

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây

Thán từ “Ôi”, “hỡi” kết hợp dấu chấm than! Nhịp ngắt phá cách ngắt đôi dòng thơ 3/3 khiến câu thơ như tiếng nấc nghẹn đau đớn. Đây là lần cuối cùng nàng có thể gọi Kim Trọng là “Kim Lang” tha thiết như thế. Thúy Kiều gọi Kim Trọng hai lần dường như bao nhiêu tình cảm chất chứa đều được thốt lên qua tiếng gọi người yêu đầy tha thiết của nàng. Câu kết là lời nhận tội, tự trách mình. Kiều vẫn nhận mình là người phụ bạc, khiến nỗi đau như đang dấy lên không ngớt trong lòng nàng. Sau đoạn đối thoại với Kim Trọng nỗi đau về tình yêu tan vỡ trào dâng trong trái tim Kiều

* Nghệ thuật : Đoạn trích là sự kết hợp hài hòa giữa tự sự và trữ tình, ngôn ngữ độc thoại, nghệ thuật miêu tả nội tâm sắc sảo đã cho thấy nỗi đau đớn đến tột cùng của Thúy Kiều.

* Vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Thúy Kiều:

- Kiều là cô gái có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế

- Giàu đức hi sinh, giàu lòng vị tha.

- Khao khát hạnh phúc

....

3.Kết bài: Khái quát giá trị của đoạn thơ.

- Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật sắc sảo, ngôn ngữ miêu tả nội tâm phong phú khi đối thoại khi độc thoại và sử dụng linh hoạt ngôn ngữ bác học kết hợp với ngôn ngữ dân gian.

- Đại thi hào Nguyễn Du đã bày tỏ sự đồng cảm xót thương với bi kịch tình yêu, bi kịch thân phận của nhân vật Thúy Kiều- điển hình cho người phụ nữ “ Hồng nhan bạc phận” trong xã hội cũ.

- Nhà thơ ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn của Thúy Kiều: giàu đức hi sinh, giàu lòng vị tha.

 

 

 

 

0.5

4.0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1.0

 

 

1.0

 

 

 

 

0.5

  

* Đây chỉ là những gợi ý cho đề theo hướng mở, học sinh có thể đề xuất những ý kiến khác miễn sao lập luận thuyết phục.

 

Lưu ý: - Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức.

- Nếu thí sinh có những cảm nhận riêng mà thuyết phục thì vẫn chấp nhận.

-HẾT-

 

 


Tập tin đính kèm
Tác giả: Bùi Thị Thi Thơ
Nguồn:Tổ Ngữ văn Copy link
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Tin liên quan